Tình hình hợp tác lao động giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của mối quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong lĩnh vực lao động và xã hội đã phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của mối quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong lĩnh vực lao động và xã hội đã phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Hai nước đã triển khai nhiều chương trình hợp tác cả trong khuôn khổ song phương và khuôn khổ đa phương, bao gồm các chương trình hợp tác phát triển nguồn nhân lực, hợp tác trong lĩnh vực vệ sinh, an toàn lao động, lĩnh vực bình đẳng giới, lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi và trong việc nâng cao năng lực các cơ quan quản lý Nhà nước, xây dựng chính sách pháp luật về lao động và xã hội. Các chương trình hợp tác đó là những lĩnh vực trọng tâm trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào việc phát triển các chính sách xã hội và phát triển kinh tế của Việt Nam.
Hợp tác đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc
Hợp tác cung ứng và sử dụng lao động giữa Việt Nam và Hàn Quốc được bắt đầu từ năm 1993 là chương trình hợp tác lớn nhất trong lĩnh vực lao động – xã hội giữa hai nước và hiện đang được triển khai thực hiện dưới 3 hình thức: (i) Lao động đi theo Chương trình Cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài (gọi tắt là EPS) do Trung tâm Lao động ngoài nước trực thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội triển khai thực hiện (trước đây là chương trình đưa tu nghiệp sinh Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc do Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc và một số doanh nghiệp Việt Nam thực hiện); (ii) Lao động đi làm việc trên các tàu đánh cá của Hàn Quốc (bao gồm cả tàu đánh cá gần bờ và tàu đánh cá xa bờ) do các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài triển khai đưa đi; và (iii) Lao động có trình độ tay nghề kỹ thuật cao.
Hiện nay có khoảng 75 nghìn lao động Việt Nam (bao gồm cả số lao động đã hết hạn hợp đồng nhưng còn ở lại làm việc) đang làm việc tại Hàn Quốc, trong đó, số lao động đi theo chương trình EPS là khoảng 63 nghìn người; số lao động đi làm thuyền viên trên các tàu đánh bắt cá Hàn Quốc là khoảng 2.700 người; số lao động kỹ thuật cao là khoảng 600 người; khoảng 3 nghìn người là lao động đi theo hợp đồng thực tập nâng cao tay nghề của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và lao động đi theo hợp đồng cá nhân.
Những kết quả đã đạt được
Chương trình EPS: Thực hiện Thoả thuận giữa Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Việc làm và Lao động Hàn Quốc, từ năm 2004 đến nay, đã có gần 70.000 lao động sang làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc (gọi tắt là EPS); chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2012 đã có gần 6.500 lao động được đưa sang làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình này. Hiện nay, tổng số lao động đi theo Chương trình này còn đang làm việc tại Hàn Quốc là khoảng 63 nghìn, trong đó khoảng 10 nghìn người là những lao động đã hết hạn hợp đồng, chưa về nước còn ở lại làm việc tại Hàn Quốc. Người lao động Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc có thu nhập cao (bình quân từ 900-1200 USD/tháng). Từ nguồn thu nhập hàng năm người lao động chuyển về nước cho gia đình trên 600 triệu USD.
Để tham gia chương trình này, người lao động phải vượt qua kỳ kiểm tra tiếng Hàn do Bộ Việc làm và Lao động Hàn Quốc chủ trì phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức. Tất cả những người lao động đáp ứng đủ điều kiện quy định, có nguyện vọng đều được tham dự kiểm tra. Những người lao động đạt yêu cầu về tiếng Hàn được làm hồ sơ đăng ký dự tuyển gửi sang Hàn Quốc (qua mạng Internet) để giới thiệu cho chủ sử dụng lao động lựa chọn. Thông thường, phía Hàn Quốc phân bổ số lượng hồ sơ đăng ký dự tuyển cho các quốc gia phái cử cao gấp 3 lần số hạn ngạnh lao động được nhập cảnh vào làm việc tại Hàn Quốc.
Lao động Việt Nam được chủ sử dụng lao động Hàn Quốc ưa thích bởi tính cần cù, chịu khó, sáng tạo và nhanh chóng hòa nhập với môi trường sinh họat và làm việc tại Hàn Quốc. Vì vậy, so với 14 quốc gia phái cử khác, Việt Nam luôn dẫn đầu về tỷ lệ lao động được chủ sử dụng lao động Hàn Quốc lựa chọn và số lượng lao động được nhập cảnh vào làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS (chiếm trên 25% tổng số lao động nước ngoài làm việc tại Hàn Quốc). Lao động Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất chế tạo (78,3%), số còn lại làm việc trong lĩnh vực xây dựng (9,3%), nông nghiệp (10,5%), ngư nghiệp (1,7%) và dịch vụ (0,2%).
Chương trình cung ứng thuyền viên cho các tàu đánh cá Hàn Quốc (bao gồm cả tàu đánh cá gần bờ và tàu đánh cá xa bờ): Hiện nay, đã có 07 doanh nghiệp Việt Nam ký được hợp đồng với các đại lý được phép của Hàn Quốc để cung ứng thuyền viên đi làm việc trên các tàu đánh bắt cá gần bờ của Hàn Quốc.
Người lao động đi làm việc trên các tàu đánh bắt cá gần bờ của Hàn Quốc theo chương trình của Hiệp hội Thủy sản Hàn Quốc (NFFC) được hưởng tiền lương và các chế độ đãi ngộ giống chế độ đối với lao động nước ngoài làm việc trong các ngành công nghiệp, xây dựng,... trên đất liền của Hàn Quốc. Người lao động có thu nhập cao và công việc phù hợp với khả năng của lao động những địa phương vùng ven biển của Việt Nam.
Bình quân mỗi năm các doanh nghiệp Việt Nam đưa được khoảng 1 nghìn lao động đi làm việc trên các tàu cá gần bờ của Hàn Quốc theo chương trình này.
Bên cạnh việc đưa lao động đi làm việc trên các tàu cá gần bờ của Hàn Quốc, hàng năm, cũng có khoảng gần 1 nghìn lao động Việt Nam được các doanh nghiệp đưa đi làm việc trên các tàu đánh bắt cá xa bờ của Hàn Quốc và một số ít đi làm thủy thủ trên các tàu vận tải biển của Hàn Quốc.
Chương trình cung ứng lao động kỹ thuật: Bên cạnh số lao động sang Hàn Quốc làm việc theo các chương trình nói trên, còn có hàng trăm lao động kỹ thuật sang làm việc tại Hàn Quốc theo thỏa thuận giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với Tổ chức Hỗ trợ công nghệ Hàn Quốc (KOTEF) và Cơ quan xúc tiến thương mại Hàn Quốc tại Hà Nội (KOTRA).
Số lượng chuyên gia và lao động kỹ thuật của Việt Nam đi làm việc tại Hàn Quốc chưa nhiều. Cho đến nay mới có khoảng 200 kỹ sư, chuyên gia Việt Nam đi làm việc tại Hàn quốc trong khuôn khổ Chương trình hợp tác thẻ vàng và khoảng vài trăm lao động kỹ thuật đi làm việc thông qua chương trình visa E7, chủ yếu là trong lĩnh vực thợ hàn tay nghề cao, đầu bếp,....
Đánh giá chung, hợp tác về lao động giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã đáp ứng lợi ích của hai quốc gia. Lao động Việt Nam được giải quyết việc làm với thu nhập cao hơn trong nước, được tiếp cận với dây chuyền công nghiệp hiện đại của Hàn Quốc. Lao động Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc đã góp phần phát triển nền kinh tế của Hàn Quốc, tăng cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước.
Những vấn đề phát sinh đối với lao động Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc và các giải pháp đã thực hiện
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình hình người lao động Việt Nam làm việc ở Hàn Quốc trong hai năm gần đây cũng xuất hiện những vấn đề cần được hai nước quan tâm giải quyết, đặc biệt là tình trạng người lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng không về nước mà cố tình tiếp tục ở lại làm việc tại Hàn Quốc. Cuối năm 2011, những lao động đầu tiên đi làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình này bắt đầu hết hạn hợp đồng, tuy nhiên, khoảng một nửa số người hết hạn đã không về nước. Tình trạng trên đã gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện chương trình EPS của Hàn Quốc. Nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận người lao động Việt Nam chưa tôn trọng các quy định của Hàn Quốc hết hạn hợp đồng không về nước tiếp tục ở lại Hàn Quốc làm việc để có thêm thu nhập, đồng thời tại Hàn Quốc cũng còn nhiều người sử dụng lao động hết hạn hợp đồng vào làm việc. Ngoài ra còn có tình trạng người lao động Việt Nam hay yêu cầu chuyển đổi nơi làm việc với những lý do không chính đáng, gây khó khăn cho các cơ quan quản lý của Hàn Quốc.
Để xử lý vấn đề nêu trên, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã thực hiện nhiều giải pháp ở cả trong nước và tại Hàn Quốc như: thay đổi cách thức tuyển chọn người lao động cho đúng đối tượng, phù hợp với khả năng, yêu cầu công việc và nguyện vọng của người lao động; tăng cường công tác đào tạo, giáo dục định hướng, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho người lao động trước khi đi; đề nghị cấp ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường chỉ đạo, giám sát các cơ quan chuyên môn của địa phương trong việc tuyển chọn, tuyên truyền về chính sách pháp luật, thông tin cho người lao động đầy đủ về chương trình đưa lao động sang làm việc tại Hàn Quốc, vận động các gia đình động viên người lao động về nước đúng thời hạn; áp dụng các biện pháp hành chính để hạn chế tuyển chọn và phái cử lao động của một số xã, phường có nhiều người lao động hết hạn hợp đồng không về nước; Phối hợp với cơ quan chức năng của Hàn Quốc tổ chức các hội nghị tư vấn để thông tin và vận động người lao động thực hiện đúng các quy định của pháp luật hai nước; phối hợp với Bộ Ngoại giao làm việc với các cơ quan chức năng của Hàn Quốc đề xuất thay đổi một số chính sách có liên quan.
Chính phủ Hàn Quốc cũng đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích người lao động về nước đúng thời hạn, trong đó có chính sách cho phép người lao động được gia hạn lần đầu ngay tại Hàn Quốc với thời gian gia hạn là 1 năm 10 tháng; tổ chức để những lao động về nước đúng thời hạn (sau khi kết thúc hợp đồng 3 năm và thời gian gia hạn 1 năm 10 tháng), được quay trở lại Hàn Quốc làm việc nếu đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra tiếng Hàn tổ chức hàng quý; đặc biệt, nếu người lao động không chuyển đổi nơi làm việc trong toàn bộ thời gian làm việc tại Hàn Quốc (4 năm 10 tháng) và trở về nước đúng hạn thì sau 3 tháng được phép tái nhập cảnh Hàn Quốc làm việc mà không phải dự kiểm tra tiếng Hàn.
Các biện pháp nêu trên đã góp phần động viên một bộ phận người lao động về nước đúng thời hạn, nhưng do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về kinh tế, nên nhiều người lao động hết hạn hợp đồng vẫn ở lại làm việc tại Hàn Quốc. Tỷ lệ lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng không về nước vẫn không giảm mà còn có chiều hướng tăng lên.
Một số giải pháp tăng cường hợp tác về lao động giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Quan hệ hợp tác sâu rộng giữa Việt Nam và Hàn Quốc đang ngày càng phát triển. Trên cơ sở quan hệ hợp tác chiến lược, sâu rộng, cùng có lợi giữa hai nước, Việt Nam đánh giá cao các kết quả hợp tác đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực giữa hai bên, đặc biệt là trong lĩnh vực lao động – xã hội.
Một trong các trọng tâm hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong lĩnh vực lao động – xã hội là thực hiện các giải pháp xử lý những tồn tại trong việc đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc, góp phần phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực này.
Trong thời gian tới, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ phối hợp với các cơ quan và các địa phương tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
1. Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, các địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội bằng nhiều hình thức đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động ý thức chấp hành pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật trong thời gian làm việc tại Hàn Quốc. Vận động các gia đình có con em làm việc tại Hàn Quốc động viên con em chấp hành tốt các quy định.
Tháng 8/2012, tại Hội nghị hợp tác lao động Việt Nam – Hàn Quốc nhân kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ký kết chương trình phối hợp với Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong công tác thông tin, tuyên truyền về chương trình đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại Hàn Quốc, nhằm ổn định và phát triển thị trường lao động Hàn Quốc.
2. Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan chính quyền địa phương trong việc tuyển chọn, đào tạo và giáo dục người lao động. Đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, các Tổ chức chính trị - xã hội (Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,...) chỉ đạo các cơ quan chức năng tại địa phương tăng cường thông tin tuyên truyền đối với gia đình người lao động về các chính sách liên quan của Việt Nam và Hàn Quốc để vận động người lao động đã hết hạn hợp đồng về nước và người lao động sẽ kết thúc hợp đồng lao động tại Hàn Quốc về nước đúng thời hạn.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ phối hợp với Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố xem xét hạn chế tuyển lao động tại một số địa phương có nhiều lao động hết hạn hợp đồng nhưng không về nước để yêu cầu gia đình người lao động vận động con em về nước.
3. Tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng của Hàn Quốc tổ chức tư vấn, tuyên truyền cho số lao động đang làm việc tại Hàn Quốc; đặc biệt là số lao động chuẩn bị hết hạn hợp đồng.
4. Tiếp tục cải tiến nâng cao hơn nữa chất lượng công tác bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở Hàn Quốc.
5. Nghiên cứu để ban hành các chính sách nhằm ràng buộc trách nhiệm của người lao động và gia đình người lao động như chính sách ký quỹ, bảo lãnh đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc; yêu cầu người lao động và gia đình cam kết thực hiện đúng các quy định của pháp luật hai nước; chính sách hỗ trợ việc làm, khởi sự doanh nghiệp cho số lao động hết hạn hợp đồng về nước.
6. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục làm việc với các cơ quan chức năng của Hàn Quốc để tăng cường quản lý bảo vệ lợi ích chính đáng của lao động trong thời gian làm việc tại Hàn Quốc; đề nghị phía Hàn Quốc tăng cường việc xử lý đối với chủ sử dụng lao động bất hợp pháp; bổ sung sửa đổi một số chính sách, quy định cho phù hợp với tình hình hiện nay, tạo điều kiện cho những lao động đã hết hạn hợp đồng được về nước thuận lợi./.
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội tại Hội nghị hợp tác lao động Việt Nam – Hàn Quốc nhân kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước 1992 -2012)