Thông tin về các loại hình thị thực lao động của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Thông tin cơ bản về Hoa Kỳ và thị trường lao động
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Hợp là nước Cộng hòa lập hiến Liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và Mêxico ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.
Với diện tích 9.833.520 triệu km² và khoảng 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 về tổng diện tích và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới tính theo sức mua tương đương.
Theo thống kê đến tháng 11 năm 2019, có 131,39 triệu lao động làm việc toàn dụng tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Số lượng này dự kiến tăng thêm 2 triệu người vào năm 2020.
Hiện ước chừng có khoảng 14 triệu lao động nước ngoài đang làm việc tại Hoa Kỳ, hầu hết là người nhập cư từ Mê-hi-cô, trong đó có khoảng 4 - 5 triệu người lao động không có giấy tờ hợp pháp.
Theo số liệu công bố của Cục Thống kê, Bộ Lao động Hoa Kỳ, số lượng việc làm mới dự kiến sẽ tăng khoảng 8,4 triệu lên con số 169,4 triệu trong thập niên 2018 - 2028. Sự già hóa dân số và nguồn lao động sẽ dẫn tới những sự thay đổi trong thập kỷ tới, trong đó có việc giảm về tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và gia tăng nhu cầu cần tuyển trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và các công việc liên quan.
Nhu cầu cần tuyển lao động trong nhiều ngành nghề tăng lên nhanh chóng như lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ liên quan. Các loại hình công việc khác cũng tăng về nhu cầu tuyển dụng là kỹ sư máy tính và toán học trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo. Việc làm trong hầu hết các nhóm công việc chính được dự báo sẽ tăng từ năm 2018 tới năm 2028. Các nhóm có sự tăng trưởng nhanh nhất bao gồm những loại hình công việc trong ngành hỗ trợ chăm sóc sức khỏe (tăng 18,2%), chăm sóc cá nhân và công việc dịch vụ (tăng 17,4%), khoa học máy tính và toán học (tăng 12,7%), khoa học kỹ thuật và bác sĩ (tăng 11,9%), dịch vụ xã hội và cộng đồng (tăng 11,2%). Trong số 30 loại hình công việc có mức tăng nhanh nhất, 18 loại hình là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và các công việc có liên quan. Nhu cầu tăng lên đối với các dịch vụ chăm sóc y tế dành cho người cao tuổi và những người bị mắc bệnh mãn tính sẽ chiếm tỷ lệ chủ yếu trong cơ cấu tăng trưởng việc làm dự kiến. Ngành nghề có sự gia tăng nhanh chóng trong lĩnh vực này là nhân viên chăm sóc y tế tại gia đình và hỗ trợ chăm sóc cá nhân, y tá, giúp việc cho bác sĩ, nhân viên hành chính trong các bệnh viện và phòng khám. Điều này là do nguyên nhân của sự tăng trưởng nhanh về nhu cầu của loại hình chăm sóc sức khỏe là do ngành nghề chăm sóc sức khỏe của Hoa Kỳ sẽ chuyển sang hướng cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế thông quan các nhóm bác sĩ và nhân viên y tế.
Loại hình lao động khó tìm nhất không còn là kỹ sư máy tính mà là nhân viên chăm sóc sức khỏe và lao động làm việc trong nhà hàng. Sự chuyển đổi này là do ngày càng có nhiều người Mỹ theo học đại học và làm các công việc có chuyên môn đào tạo, trong khi số người lao động phổ thông của thời kỳ dân số vàng lại đang nghỉ hưu với số lượng lớn. Số liệu mới nhất của thị trường lao động cho thấy có rất nhiều vị trí việc làm yêu cầu trình độ đại học chưa tìm được lao động - với con số khoảng 1 triệu việc làm trong khu vực kinh doanh dịch vụ. Nhưng số liệu cũng cho thấy còn nhiều vị trí việc làm mở mà không yêu cầu trình độ đào tạo ở lĩnh vực này.
Trong những năm gần đây, người sử dụng lao động tại Hoa kỳ đang kêu ca về việc thiếu lao động có tay nghề, cụ thể là người lao động với bằng cấp chuyên môn bậc cao trong các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học). Gần như tất cả các lĩnh vực công nghiệp hiện nay đều đối mặt với sự thiếu hụt lao động, nhưng ở đây có một nghịch lý: Người sử dụng lao động đang gặp khó khăn tìm các vị trí người lao động với tay nghề phổ thông hơn là lao động có chuyên môn đào tạo trình độ đại học.
Chính sách miễn thị thực cho công dân nước ngoài
Chính phủ Hoa kỳ cũng áp dụng chính sách cho phép công dân nước ngoài thuộc các quốc gia đã ký Thỏa thuận được sang Hoa Kỳ với mục đích du lịch hoặc kinh doanh, với thời hạn tới 90 ngày (không thuộc diện thị thực loại B1 hoặc B2). Hiện có 37 quốc gia và vùng lãnh thổ được phía Hoa Kỳ đồng ý để tham gia Chương trình này gồm: Andorra, Australia, Áo, Bỉ, Brunei, CH Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Ai-len, I-ta-lia, Nhật Bản, Latvia, Liechtenstein, Lithuania, Lúc-xem-bua, Malta, Monaco, Hà Lan, New Zealand, Na-uy, Bồ đào nha, San Marino, Singgapo, CH Slovakia, Slovenia, Hàn Quốc, Tây ban nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đài Loan và Vương quốc Anh.
Quy định về cấp giấy phép cho lao động nước ngoài
Thông thường, một người nước ngoài muốn tới Hoa Kỳ phải xin cấp thị thực, hoặc là thị thực không di dân cho thời gian lưu trú ngắn hạn, hoặc là thị thực di dân đối với trường hợp cư trú vĩnh viễn.
Thị thực lao động có thời hạn được áp dụng với những cá nhân muốn tới Hoa Kỳ để làm việc trong một khoảng thời gian nhất định, không phải diện cư trú vĩnh viễn hay lưu trú với thời hạn không xác định. Để có được thị thực lao động thì người chủ sử dụng lao động tương ứng trước tiên phải nộp hồ sơ với Cơ quan Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS). Sau khi hồ sơ được chấp thuận, người sử dụng lao động sẽ làm thủ tục xin cấp thị thực làm việc cho người lao động. Loại hình thị thực cụ thể mà người lao động nước ngoài được cấp tùy thuộc vào bản chất công việc và tính chất lưu trú tại Hoa Kỳ.
Một người lao động ngắn hạn được hiểu là cá nhân tìm việc làm có thời hạn tại Hoa Kỳ với một mục đích cụ thể. Những lao động nước ngoài thuộc diện không di dân này sang Hoa Kỳ trong một khoản thời gian nhất định, và một khi họ tới Hoa Kỳ, họ bị hạn chế với hoạt động hoặc lý do theo yêu cầu của loại hình thị thực ngắn hạn không di dân mà họ được cấp.
Người nước ngoài không phải là công dân hoặc người cư trú vĩnh viễn tại Hoa Kỳ cần có visa lao động cũng như giấy phép lao động - hay còn được gọi là Văn bản chấp thuận việc làm (EAD), để có thể làm việc tại Hoa Kỳ.
Các cơ quan Bộ Lao động Liên bang, Bộ Lao động Bang, Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch (CIS) và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phụ trách việc cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài vào làm việc tại Hoa Kỳ.
Để được phép tiếp nhận lao động nước ngoài, trước hết, người sử dụng lao động phải xin được giấy chấp thuận của Bộ Lao động Hoa Kỳ (Giấy này chỉ được cấp khi không có đủ lao động bản địa sẵn sàng làm công việc đó với mức lương bằng hoặc cao hơn mức lương phổ biến với loại hình công việc cần tuyển lao động nước ngoài, và việc tiếp nhận lao động nước ngoài vào làm việc có thời hạn hay lâu dài tại Hoa Kỳ không ảnh hưởng bất lợi tới cơ hội việc làm, mức lương và điều kiện làm việc của lao động bản địa). Sau khi được Bộ Lao động Hoa Kỳ chấp thuận cho phép tuyển lao động nước ngoài, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ tới Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch Hoa Kỳ để xin thị thực. Việc được Bộ Lao động Hoa Kỳ chấp thuận cũng chưa đảm bảo việc người lao động nước ngoài sẽ được cấp visa. Ngoài ra, người lao động phải đáp ứng các quy định của Luật Quốc tịch và Nhập cư của Hoa Kỳ.
Chủ sử dụng lao động chịu trách nhiệm trong toàn bộ quá trình xin chấp thuận để có thể tiếp nhận lao động nước ngoài. Tuy nhiên, người lao động cũng cần phải hiểu các quy định có liên quan của phía Hoa Kỳ về việc này. Thủ tục cụ thể phụ thuộc vào loại hình thị thực của người lao động.
Có nhiều hình thức thị thực lao động dành cho người nước ngoài muốn làm việc tại Hoa Kỳ gồm thị thực lao động tạm thời, thị thực lao động thời vụ, thị thực trao đổi lao động.
Các loại hình thị thực đối với người nước ngoài
Một số loại hình visa cơ bản đối với lao động nước ngoài như sau
-
Thị thực lao động tạm thời (phi nông nghiệp)
- Thị thực lao động tạm thời phi nông nghiệp (H-2B) dành cho lao động nước ngoài trong các lĩnh vực phi nông nghiệp được làm việc tại Hoa Kỳ, trong trường hợp không có đủ số lượng lao động loại hình này trong nước.
- Hiện nay, số lượng tối đa visa H-2B được cấp mỗi năm là 66.000 chỉ tiêu, một nửa trong số này phải bắt đầu công việc trong 6 tháng đầu năm và một nửa trong 6 tháng cuối năm. Visa đợt đầu năm nếu không dùng hết sẽ được chuyển cho đợt 6 tháng cuối năm. Visa trong năm nếu không được sử dụng hết sẽ không được chuyển sang năm sau.
- Thông thường, thị thực H-2B có thời hạn trong 1 năm nhưng có thể được gia hạn tăng dần, từ 1 năm tới tối đa là 3 năm. Sau thời hạn 3 năm, người lao động phải rời Hoa Kỳ, trong thời gian 3 tháng trước khi có thể quay trở lại làm việc tại Hoa Kỳ với cùng loại hình visa. Thời gian trước đó người lao động ở Hoa Kỳ theo các thị thực loại H hoặc loại L khác cũng sẽ được tính vào tổng số thời gian tại Hoa Kỳ.
Để xin cấp visa H-2B, người sử dụng lao động phải đảm bảo:
-
Công việc mà họ muốn tuyển dụng về bản chất là tạm thời, kể cả trong trường hợp tính chất công việc đó không phải là tạm thời. Người nộp hồ sơ phải chứng minh đây là loại hình công việc một lần, ngắn hạn và mang tính chất thời vụ gắn với một sự kiện, thời vụ trong năm, cần nhận thêm lao động nước ngoài để đáp ứng tiến độ công việc.
-
Việc sử dụng người lao động nước ngoài với thị thực H-2B sẽ không có tác động tiêu cực tới các điều kiện lao động, kể cả tiền lương, của lao động bản địa làm cùng loại hình công việc.
-
Không có đủ số lượng lao động bản địa được tuyển dụng hoặc sẵn sàng và có thể hoàn thành loại hình công việc tạm thời đó.
-
Công ty tuyển dụng phải được Bộ Lao động Hoa Kỳ chứng nhận là phù hợp.
-
Người sử dụng lao động phải chứng minh với Bộ Lao động Hoa kỳ về việc họ sẽ trả lương cho lao động H-2B tối thiểu bằng hoặc cao hơn mức lương phổ biến, áp dụng mức lương tối thiểu Liên bang, mức lương tối thiểu của Bang hoặc mức lương tối thiểu của địa phương đối với người lao động visa H-2B trong lĩnh vực công việc dự kiến tuyển dụng người lao động. Luật pháp Hoa kỳ có các quy định để bảo vệ lao động bản địa được tuyển dụng làm công việc tương tự.
-
Danh sách các quốc gia mà người lao động được cấp visa H-2B được Bộ An ninh nội địa và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cập nhật hàng năm.
-
Thị thực lao động nông nghiệp mùa vụ (H-2A)
- Thị thực nông nghiệp mùa vụ (H-2A) dành cho lao động nông nghiệp nước ngoài được làm việc tại Hoa kỳ theo mùa vụ và tạm thời/có thời hạn, nếu nguồn lao động trong nước bị thiếu. Thời gian của thị thực được giới hạn từ vài tháng đến 1 năm, tối đa là 3 năm và người lao động phải là công dân thuộc các quốc gia trong danh sách được lựa chọn. Sau thời hạn 3 năm, người lao động phải rời Hoa Kỳ trong thời gian 3 tháng trước khi có thể quay trở lại làm việc tại Hoa Kỳ với cùng loại hình visa.
- Các cá nhân không tự nộp hồ sơ xin thị thực được. Người sử dụng lao động hoặc công ty của người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ thay mặt cho người mà lao động muốn tuyển dụng. Người sử dụng lao động phải chứng minh rằng có nhu cầu tuyển thêm lao động mùa vụ, hoặc họ phải tuyển bổ sung lao động tạm thời do nhu cầu. Lao động tạm thời không thể chuyển tư cách sang lao động thường xuyên (regular staff) và cũng không thay thế được lao động toàn dụng (full-time) hoặc lao động thường trú (permanent workers).
Vợ hoặc chồng và con dưới 21 tuổi, chưa kết hôn của người lao động visa H-2A có thể xin visa H-4 không nhập cư để sang Hoa Kỳ. Họ không được phép làm việc tại Hoa kỳ với loại hình visa này (H-4);
Theo thông báo của Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, từ ngày 18/01/2018 có 77 quốc gia và vùng lãnh thổ được Bộ An ninh nội địa cho phép đưa lao động H-2A và H-2B sang Hoa Kỳ. Việt Nam không thuộc danh sách quốc gia được phía Hoa Kỳ cấp thị thực lao động loại hình H2-A và H-2B.
-
Thị thực lao động có thời hạn (lao động có tay nghề)
- Thị thực không di dân H-1B dành cho người lao động có tay nghề, có trình độ được tuyển dụng trong một số lĩnh vực đặc biệt. Thị thực H1-B cho phép người lao động nước ngoài làm việc có thời hạn cho người sử dụng lao động cụ thể tại Hoa Kỳ.
- Để được cấp thị thực H-1B, người lao động phải có mối quan hệ chủ-thợ, làm việc trong các công việc đặc biệt có nhu cầu cụ thể và được trả tiền lương cao hơn mức phổ biến dành cho loại hình công việc đó. Chỉ tiêu tối đa là 65.000 thị thực H-1B được cấp hàng năm.
- Người lao động với visa H-1B có thể làm việc tại Hoa kỳ tới 3 năm và có thể gia hạn, tối đa không quá 6 năm. Vợ/chồng và con dưới 21 tuổi, chưa kết hôn của họ có thể nộp đơn xin visa H-4 để sang Hoa kỳ. Từ ngày 26/5/2015, một số lượng nhất định vợ/chồng của người lao động với visa H-1B có thể nộp đơn xin giấy phép lao động tại Hoa Kỳ khi vợ/chồng của họ làm thủ tục xin cấp tư cách thường trú để làm việc tại Hoa Kỳ.
- Thị thực H-1B dành cho người lao động trong các ngành nghề đòi hỏi phải ứng dụng lý thuyết và thực tế trong lĩnh vực có kiến thức chuyên môn cao và tối thiểu phải có bằng cử nhân chuyên ngành cụ thể, hoặc tương đương.
- Luật pháp Hoa kỳ có các tiêu chuẩn để bảo vệ lao động bản địa được tuyển dụng làm công việc tương đương không bị ảnh hưởng bất lợi bởi việc tuyển dụng lao động nước ngoài cũng như việc bảo vệ lao động nước ngoài làm việc tại Hoa kỳ với visa H-1B không di dân. Người sử dụng lao động phải chứng minh với Bộ Lao động Hoa kỳ về việc họ sẽ trả lương cho lao động H-1B tối thiểu bằng với mức lương thực tế trả cho người lao động khác với kinh nghiệm và trình độ tương tự hoặc mức lương phổ biến đối với ngành nghề công việc tuyển dụng đó.
* Yêu cầu đối với thị thực H-1B
Để được cấp visa H-1B, người lao động phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
-
Tối thiểu phải có Bằng Cử nhân hoặc tương đương;
-
Tính chất loại hình công việc phức tạp và đặc thù và chỉ có thể được thực hiện bởi cá nhân có bằng cấp;
-
Người sử dụng lao động thường yêu cầu về bằng cấp hoặc tương đương đối với vị trí công việc cần tuyển;
-
Bản chất nhiệm vụ cụ thể mang tính chuyên môn cao và phức tạp nên yêu cầu về kiến thức để thực hiện được công việc thường đi kèm với việc người lao động đã tốt nghiệp tối thiểu là trình độ cử nhân.
Các loại hình công việc của thị thực H-1B gồm những lĩnh vực sau:
-
Chuyên gia CNTT/Máy tính - IT / Computer professionals;
-
Giáo sư và giảng viên đại học / University professors and teachers;
-
Kỹ sư / Engineers;
-
Chăm sóc sức khỏe / Healthcare workers;
-
Kế toán / Accountants;
-
Phân tích tài chính / Financial analysts;
-
Tư vấn quản lý / Management consultants;
-
Luật sư / Lawyers;
-
Kiến trúc sư / Architects;
-
Điều dưỡng / Nurses;
-
Bác sĩ (đối với bác sĩ nước ngoài quan tâm đến việc xin visa loại hình H-1B) / Physicians (for foreign doctors interested in obtaining an H-1B visa);
-
Bác sĩ phẫu thuật / Surgeons;
-
Nha sĩ / Dentists;
-
Nhà khoa học / Scientists;
-
Chuyên gia phân tích hệ thống / Systems analysts;
-
Nhà báo và Biên tập viên / Journalists and editors;
-
Tư vấn luật nước ngoài / Foreign Law advisors;
-
Nhà tâm lý học / Psychologists;
-
Nhà văn viết các ấn phẩm kỹ thuật / Technical publications writers;
-
Chuyên gia nghiên cứu thị trường / Market research analysts;
-
Giáo viên Trường Tiểu học, Trung học và Cao đẳng / Teachers in elementary or secondary schools, colleges.